Thứ Bảy, ngày 26 tháng 12 năm 2015

KỲ TÍCH DIỆT SÂU

Cột và Kèo vốn là bạn chí cốt. Chúng thường buôn dưa lê về đủ thứ chuyện. Nhân một ngày cuối năm, sau khi đã "zô, zô!" vài phát và men đă bốc, Cột đố Kèo nêu được sự kiện nổi bật nhất của 2015. Kèo láu táu, đó là Đại hội Hội Nhà văn toàn quốc. Cóc phải. Là Đại hội toàn quốc Hội nhạc sĩ. Cóc phải. Là Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc. Cũng cóc phải nốt. Đó chỉ là những hoạt động theo thông lệ, kiểu "đến hẹn lại lên", nặng về hình thức và trình diễn mà thôi. Chú mày biết khônng, dân gian truyền nhau mấy câu vui phết: "Ghét nhau chung chiếu không ngồi/Chung chăn không đắp, chung nồi không ăn/Chỉ trừ cái Hội nhà văn/Ghét nhau như chó vẫn lăn xả vào." Còn về chuyện "thi đua" thì người dân xì xầm : Quái lạ, người người thi đua, ngành ngành thi đua, các đơn vị, cá nhân báo cáo thành tích nghe choang choang, hoành tráng lắm mà sao càng thi đua đất nước càng tụt hậu, lẽo đẽo theo sau các nước trong khu vực, từ nước đang phát triển thành nước "không chịu phát triển".
Thế theo bác đó là sự kiện gì nào, Kèo vặn. Cột vênh mặt phán, nghe đây! Đó là việc Hà Nội và TP HCM tuyên bố không có tham nhũng. Sững sờ tí chút rồi Kèo cãi, vô lí, ông Tổng khẳng định công cuộc chống tham nhũng "phức tạp và quá khó" rồi nhắc nhở "đánh chuột nhưng không làm vỡ bình", ông Chủ tịch thì bảo có "cả một bầy sâu", bà Phó Chủ tịch than vãn: "Người ta ăn của dân không từ cái gì"... Cột bảo thế nên mới có hai khả năng. Thứ nhất, các quân sư quạt mo của ông Tổng, ông Chủ tịch và bà Phó cung cấp thông tin rởm! Thứ hai, thông tin của các quân sư là chính xác, dưng mà thủ đô Hà Nội và TP HCM đã triệt để quán triệt tinh thần: chống tham nhũng hay là chết, nên đã chỉ đạo cực kì rốt ráo, quyết liệt, quyết liệt và quyết liệt cái mặt trận cam go và nóng bỏng này, lấy thành tích dâng lên Đại hội XII nên đã lập nên kỳ tích rực rỡ: ĐẨY LÙI QUỐC NẠN THAM NHŨNG, TIÊU DIỆT HẾT BẦY SÂU!
Nghiêng nghiêng cái đầu gật gù, Kèo reo lên em biết rồi khả năng thứ hai là trúng phóc vì cho đến nay không thấy ba vị trên đưa ra một lời cải chính nào cả (chứ chả phải như ông nghị DTQ bảo "tham nhũng nằm ở nhà quê" đâu). Chú mày thông minh đột xuất đấy. Khi mà Hà Nội và TP HCM, hai thành phố lớn và quan trọng bậc nhất, nơi tập trung phần lớn quan chức cỡ bự và có môi trường màu mỡ như thế mà không có sâu thì các tỉnh thành khác bói cũng chả ra con sâu nào dù bé tí tẹo. Suy ra, cả nước đã sạch sâu! Cho nên tớ hoan hỉ, lạc quan lắm. Sự kiện này quá xứng đáng là nổi bật nhất 2015 chứ gì nữa. Bác chỉ được cái nói đúng thôi! nhiệt liệt hoan hô Hà Nội và TP HCM! Ta cùng nâng li ăn mừng nào! Cột và Kèo "zô" một phát! Rồi "zô" phát nữa! Phát nữa! Rồi Cột cao hứng khua tay bảo sắp sang năm mới rồi, thể nào trong đít cua chúc mừng của các vị cũng có câu: "Xin vui mừng thông báo với đồng bào và chiến sĩ cả nước, năm qua chúng ta đã giành thắng lợi vẻ vang, từ nay đất nước sạch bóng bầy sâu." Ôi, "Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời lòng ta mê say!" Cột ôm Kèo hát ông ổng. Thế là từ năm 2016 đất nước ta sẽ cất cánh bay vun vút, rồi sẽ thành rồng thành phượng, ngang ngửa sánh vai với các cường quốc năm châu! Trong tâm trí Cột bỗng âm vang câu hát véo von thuở nào: "Đất nước mình rồi sẽ thắm tươi, trong tương lai XHCN...". Cột vỗ đùi đánh đét: Cái ông nhạc sĩ tiên đoán thánh thật. Tài, tài thật, tiên s... !
Kèo phục Cột sát đất. Thảo nào các cụ dạy: "Không biết thì dựa Cột mà nghe!".
25/12/15
:Chi chú: Đăng lại bài của ông ban VĐT

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 11 năm 2015

Chúc THẦY thượng thọ an bình !


Đây là hình chụp quyển sách kèm theo tờ cart trên đó có bài thơ mà tác giả tặng cho học trò tôi và. Đó là Thầy Nghĩa (cách goi than mật đã quen thuộc đối vớ SV chúng tôi từ lâu rồi). thầy Nghĩa là một trong số ít giáo viên đầu tiên dạy lớp tôi khi Trường Ngoai Giao mới chân ướt chân ráo đến nơi sơ tán trên Bắc Thái. Đúng ra thầy là giáo viên chính của ĐH Sư Phạm và đã từng là đồng tác giả của một số quyển từ điển lớn ở VN , Hiện nay Thầy đã 80 tuổi vẫn là một cây bút sắc sảo của Hội Nhà văn VN với bút danh Nguyên Tâm và là một trong những cây bút chuyên sáng tác văn thơ Thầy còn là dịch giả của khá nhiều sách tiếng Anh.

Điều khiến tôi ngạc nhiên và thán phục là, tuy sau gần 40 năm thầy trò không gặp lại (cho đến cách đây quảng 1/2 năm tôi được một người bạn đưa đến nhà thăm Thầy, và qua đó được biết thầy vẫn nhớ tất cả bọn sinh viên chúng tôi cùng mọi điều của những ngày sơ tán. Mới đây, biết tôi bệnh nặng Thầy đã lọ mọ đến nhà thăm và tặng tôi quyển thơ mới sáng tác. Điều khiến tôi ngạc nhiên hơn là ở mặt sau tấm thiếp Thầy có đề tặng 4 câu thơ trong đó nói về tính cách của tôi. Tuy những tính đó gợi lại nguyên nhân thất bại trong cuộc đời công tác của tôi nhưng phải nói chúng hoàn toàn chính xác mà có lẽ chỉ một người Thầy rất hiểu trò mới khái quát được ngắn gọn và hóm hỉnh như vậy (xin mọi người chịu khó đọc trên mặt sau của tấm cart có đính kèm trong tấm ảnh)..
Nhân ngày Nhà giáo 20/11, do ốm đau không đến nhà thămThầy được, tôi xin mạn phép mượn status này để tỏ lòng cảm ơn và ngưỡng mộ sâu sắc của tôi đối với Thầy vậy! Xin kinh chúc Thầy tượng thọ và an bình./.
Trò Trần Kinh Nghị.

Thứ Hai, ngày 17 tháng 8 năm 2015

Thử tìm lý do tạị sao bệnh viện tư tốt hơn bệnh viện công

                                            Bệnh viện Hồng  Ngọc với diện tích rất khiêm tốn

Nếu bạn đã một lần vào  bệnh viện  Hồng Ngọc tôi tin chắc bạn sẽ thấy đó mới đích thực là một bệnh viện. Tất nhiên chi phí ở đây  khá cao, nhất là so với thu nhập bình quân của  người Việt hiện nay. Nhưng đúng  như  người ta nói " Đắt xắt ra miếng"; bạn sẽ không có gì để than phiền  và không phải bận tâm lo chuyện "phong bì" - một trong những  mối lo khiến bạn và người nhà luôn canh cánh  trong  đầu, thậm chí ảnh hưởng xấu đến quá trình điều trị của bạn.

Giá đắt của bệnh viện tư là hoàn toàn có lý vì họ phải trang trải mọi chi phí từ  đất đai , nhà của, trang thiết bị, lương nhân viên , v.v... Tôi nghĩ một bệnh viện công  thường chiếm những khu đất rất rộng gấp  chục làn của  bệnh viện Hồng  Ngọc và và  thường có vị trí "đắc địa". Tất cả các bệnh viện công đều được Nhà nước trợ giúp phần lớn  cơ sở vật chất từ đất đai, trang thiết bị  bằng kinh phí ban đầu và  hàng năm và được ưu tiên tuyển chọn  một đội ngũ bác sĩ  nhân viên tay nghề  cao và số lượng rất "đông đảo" nhưng chất lượng dịch vụ  phải nói là rất kém (Bản thân tôi nằm  nhiều  bệnh viện  nhưng có thể nói, trừ một số đặc biệt hoặc "người nhà",  chưa bao giờ được nói chuyện trao đổi  quá 2-3 phút với  bác sĩ thì làm sao bác sĩ hiểu được tình trạng bệnh tình của bệnh nhân (thậm chí  còn bị "hiểu nhầm" đáng tiếc gây hậu quả về lâu dài). Mọi chăm sóc ban đêm và cả một phần ban ngày đều cho "người nhà bệnh nhân " (thực chất là đội ngũ không thể thiếu tại các bệnh viện công lâu nay và họ được "sai bảo" như người của  bệnh viện vậy ! "Tôi có rất nhiều dẫn chứng về điều này nhưng không tiện nói hết ra đây.

Bằng mấy lời ngắn gọn này tôi không có ý định phê phán hay chê , khen  bênh nào hoặc cá nhân nào mà chỉ  muốn nêu lên một thực tế tôi đã từng trải qua để chúng ta cùng suy ngẫm nhằm phấn đấu cho một nền y học nước nhà sánh kịp với quốc tế để dân ta được nhờ. Nhiều thế hệ người VN đã chìm đắm quá lâu trong cái gọi là "chế độ bao cấp"- một khái niệm rất mơ hồ mà vẫn được duy trì lâu thế có lẽ là do một bộ phận muốn duy trì vì lợi ích cá nhân hoặc "tập thể" của họ. Rõ ràng một phần lớn số kinh phí bao cấp của Nhà nước phải  chui vào tư túi của nhóm người đó hoặc bị lãng phí do không được quản lý và sử dụng một cách hợp lý..

Chắc có nhiều ý kiến cho rằng " Hồng Ngọc thu viện phí cao thế thì dịch vụ tốt là điều tất nhiên". Nhưng theo tôi vấn đề sâu xa không phải ở viện phí đất.  Tôi cho là vấn đề nằm ở khâu tổ chức , quản lý và sử dụng nhân sự. Và không ai khác, Nhà nước, cụ thể là các  Bộ và  cơ quan hữu trách, cần kiên quyết ra tay xử lý rốt ráo thì chắc chắn sẽ giải quyết được. Chúng ta hy vọng một ngày không xa các bệnh viện công sẽ không kém gì bệnh viện tư như Hồng ngọc, Vimax... và lúc đó giá thành sẽ tự nhiên hạ thấp xuống  ./.   

Thứ Ba, ngày 11 tháng 8 năm 2015

Nhân sự kiện Cu Ba và Mỹ đạt được thỏa thuận bình thường hóa, xin bàn đôi điều về quan hệ Việt-Trung

Sau sự kiện Cu Ba và Mỹ đạt thỏa thuận bình thường hóa quan hê đã rộ lên những so sánh về quá trình bình thường quan hệ Việt-Mỹ với quá trình bình thường quan hệ Cu Ba- Mỹ. Có ý kiến cho rằng "VN đi nhanh hơn", ý kiến khác cho rằng "Cu Ba đi chậm nhưng chắc” và sẽ tiến nhanh hơn VN, v.v...

Mọi sự so sánh đều có thể. Nhưng nếu xét  về bản chất sẽ thấy sự so sánh này là hoàn toàn khập khiễng, nếu không nói là hời hợt vì không tính đến 2 yếu tố cơ bản:

1. Mỹ là đối tượng cố hữu của nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ca Ba; trong khi đối tượng của VN là TQ. Đây là yếu tố quyết định tiến trình nhanh-chậm, mức độ "mở cửa"của hai trước nhỏ trước hai kẻ thù khổng lồ có biên giới "đất liền đất, biển liền biển" (riêng Cu Ba còn có căn cứ quân sự Wantanamo của Mỹ đóng bên trong lãnh thổ của mình);

2. Lãnh đạo và nhân dân Cu Ba có lẽ nhận thức rõ điều này hơn lãnh đạo VN nhận thức về TQ (nếu không nói là VN còn "lẫn lộn bạn thù"). Điều này thể hiện khá rõ qua đường lối chính sách của 2 nước. Cho đến nay các thế hệ chính quyền Cu Ba vẫn bám sát đường lối của mình, có thể nói trừ phi xảy ra trường hợp biến động chính trị làm thay đổi chính quyền, chắc chắn Cu Ba sẽ không bao giờ buông bỏ mục tiêu này. Và do đó, quá trình bình thường hóa quan hệ Cu Ba-Mỹ đã mất ½ thế kỷ mới bắt đầu trở lại bình thường hóa và chắc chắn sẽ còn nhiều gập ghềnh trong quá trình đàm phán cụ thể và không thể nhanh như nhiều người tưởng. Trong khi đó VN chỉ mất hơn 10 năm và đã có thể đạt thảo thuận bình thường hóa quan hệ với TQ, không những thế đã nhanh chóng khôi phục các mối quan chính trị rất thân thiện với nhau. Đặc biệt nền kinh tế VN nhanh chóng bị kinh tế TQ lấn át.  

Như trên vừa nói, xét về đối tượng kẻ thù và mục đích độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thì điều khác nhau cơ bản giữa VN và Cu Ba là kẻ thù chính của VN không ai khác mà luôn là TQ; kẻ thù chính của Ca Ba là Mỹ. Nếu VN vì lý do nào đó nhìn nhận sai lệch kẻ thù chính thì vô cùng nguy hiểm. Trên thực tế mấy ngàn năm qua VN có thời kỳ nhận thức rõ, có thời kỳ bị sao nhãng. Đó chính là nhược điểm cố hữu của VN.

Chỉ khi nào bị TQ xâm lược người Việt Nam đều quật khởi đánh thắng quân xâm lược. Không kể thời kỳ tiền sử khi tổ tiên người Việt (Bách Việt) còn làm chủ cả miền Nam sông Dương Tử, thì người Việt đã tuyên bố độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ rồi, tiêu biểu là nước Nam Việt (Triệu Đà)(*), thời Hai Bà Trưng, thời Lê Hoàn 981(được cho là chủ nhân đích thực của bài thơ 

"Nam quốc sơn hà Nam Đế cư;
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư;
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm;
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư" .
(Cũng có thuyết coi đây là "Tuyên ngôn độc lập" của Lý Thường Kiệt năm 1077).

Tiếc rằng ngày nay người VN vì lý do chính thân TQ đã dần hiểu sai lịch sử chính thống của mình., không tin mình có lịch sư ngót 5 ngàn nă ( từ 2789 TCN). Để chứng minh điều này dưới đây là ảnh tôi chụp (trang đầu) của cuốn sử tóm lược đầy đủ rõ ràng về lịch sử hơn 4.000 năm của VN do đích thân Bác Hồ viết tay và vẽ tranh minh họa - tiêu đề “Lịch sử nước ta” được “Việt Nam Tuyên truyền Bộ” xuất bản tháng 2/1942. 


Tôi nghĩ đây là tư liệu vô cùng quý giá không chỉ về lịch sử mà còn để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về Bác Hồ. Tuy nhiên không hiểu vì lý gì nó hầu như không được nhắc đến ngày nay.

Sang thời cận đại không thể không nhắc đến vai trò vô cùng to lớn của Hoàng đế Quang Trung-Nguyễn Huệ (1753-1792) , đặc biệt với kế hoạch định đòi lại Lưỡng Quảng, nhưng không may bị bạo bệnh ông mất vào thời kỳ sung sức nhất khi mới 39 tuổi.

Lịch sử chống kẻ thù truyền kiếp Phương Bắc của dân tộc VN oai hùng là vậy, nhưng tiếc rằng, luôn luôn tồn tại tình trạng các chế độ cầm quyền trong các thời kỳ khác nhau vì lợi ích riêng của họ đã chọn cách quy phục Vương Triều Phương Bắc. Điều này dễ hiểu vì đó là do ảnh hưởng của hàng ngàn năm Bắc thuộc, hơn nữa thời xưa VN chưa có những "thế lực thứ ba" để dựa vào như ngày nay. Các phong trào canh tân của nhiều vị chí sĩ và ý đồ cải cách của họ cũng đều chết yểu vì nhiều lý do khác nhau. 

Có thể nói tình trạng này vẫn còn đến bây giờ. Tuy nhiên, đây là một chủ đề hết sức phức tạp và tế nhị không thể đem ra bàn cãi bây giờ, xin gác lại để lịch sử phán xét. Chỉ xin nhắc lại sự kiện chiến tranh biên giới 1979 do chế độ Trung Hoa cộng sản chủ động gây ra. Đó không phải lần đầu TQ hiện nguyên hình bản chất bành trướng xâm lược đối với VN. Ý đồ thôn tính VN của nước Trung Hoa cộng sản còn mạnh hơn cả mọi thời thời kỳ phong kiến. Điều này được thể hiện trong nhiều phát biểu kín hoặc công khai của giới lãnh đạo nước này như Mao Trạch Đông , Đặng Tiểu Bình v, v... 



  Cuộcchiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 tàn bạo như thế nhưng người ta vẫn đang             tâm đục bỏ những biểu tượng dựng lên trước đó để làm hài lòng TQ

Trong bối cảnh tình hình mới, lịch sử dường như lặp lại khi Tổng BT Lê Duẩn ngay ngay sau đại thắng 30 tháng 4/1975 và thống nhất đất nước đã chỉ ra TQ mới là kẻ thù truyền kiếp nguy hiểm nhất của VN. Có thể nói , những chủ trương đường lối mới do Tổng BT Lê Duẩn đề xướng thời kỳ sau giải phóng miền Nam không tránh những mặt sai lầm chủ yếu về kinh tế -xã hội, nhưng quan điểm của ông đối với TQ là đúng hướng và rõ ràng có ý nghĩa quan trọng đối với việc lựa con đường bảo vệ độc lập chủ quyền và tương lai phát triển lâu dài của dân tộc trong thời đại mới. Và quan điểm này của ông đã được nhiều vị lãnh đạo cùng thời như Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng NG Nguyễn Cơ Thach, Thứ trưởng NG thứ nhất Trần Quang Cơ và nhiều cán bộ chuyên gia cao cấp của Bộ Ngoại giao và TW Đảng thời đó công ủng hộ. Riêng Ông Nguyễn Cơ Thạch đã đánh đổi bằng sinh mệnh chính trị của mình và bị phế truất lập tức mọi chức vụ do chống lại "giải pháp đỏ" Thành Đô. Điều quan trọng hơn là chủ trương mới của Tổng BT Lê Duẩn đã được được ghi rõ trong Hiến pháp nước ta năm 1980. Dưới đây xin trích lại nguyên văn Lời mở đầu Hiến pháp: 

“Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hòa bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam-pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.”

(Để có thêm thông tin cụ thể bạn nên đọc Sách trắng của Bộ Ngoại Giao Việt Nam ": Sự thật 30 năm quan hệ Việt-Trung” Nhà XB Sự thật 1979)

Tiếc thay, chỉ hai năm sau khi Tổng Bí Thư Lê Duẩn qua đời, các thế lực thân TQ lại trỗi dậy với lối tư duy cũ đã vội vã cầu hòa với nhà cầm quyền Bắc Kinh bất chấp bao hy sinh xương máu, của cải và thời gian mà dân tộc đã bỏ ra trong 2 cuộc chiến Biên giới Tây Nam và Biên giới phía Bắc. Điều đáng tiếc là vào thời kỳ đó nếu xét về tương quan lực lược trên mặt trận à quốc tế VN thực sự có nhiều lợi thế để đàm phán sòng phẳng với TQ với một số lựa chọn mà TQ rất lo sợ , ví dụ, chấp nhận  "quốc tế hóa vấn đề CPC đồng thời không khai tội ác của TQ trong cuộc chiến tranh biên giới. Thế yếu của TQ thời kỳ đó là kinh tế kiệt quệ và bị thế giới lên án sau vụ Thiên An Môn.

Do đánh giá sai tương quan lực lược và đặc biệt bị ràng buộc bởi "ý thức hệ" Đoàn VN đã chấp nhận gần như mọi điều kiện do Bắc Kinh đưa ra. Những nội dung này đến nay vẫn chưa được bạch hóa.


    Lãnh đạo VN chỉnh tề trong lễ ký thỏa thuận Thành Đô

Không cần nhắc lại, ai cũng biết VN không bao giờ chủ trương đối đầu với TQ, cũng không "đi với bên này chống bên kia". Nhưng nguyên tắc baats di bất dịch của VN phải là sự bình đẳng thật sự trong mọi quan hệ với TQ trên cơ sở tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Đây là nguyên tắc VN không thể đánh mất vì bất cứ lý do gì. Nhưng tiếc rằng trên thực tế , vì những mối quan hệ ràng buộc "ý thức hệ", có thể nói, đến nay VN chưa làm được điều này, vẫn áp dụng chính sách cân "bằng giữa hai cường quốc Trung, Mỹ mà thực chất luôn nghiêng về phía TQ . Và chính sách này liên tục bị phía TQ triệt để lợi dụng khiến  VN luôn phải bị động chống trả chiến tranh từ phía TQ mà không có các mối quan hệ với các nước thứ ba để răn đe để TQ phải e ngại mỗi khi đánh VN. 

Gần đây, do phía TQ "không đặng đừng" nóng lòng thực hiện ý đồ bá quyền Biển Đông, rõ nhất là sau vụ giàn khoan 981 đồng thời ráo riết điên cuồng chiến dịch tôn tạo mở rộng 7 bãi đá ngầm thành đảo nổi và xây dựng những căn sân bay, bến cảng, trạm ra đa v.v.. để lộ rõ dã tâm. Những hành động này khiến nhân dân VN và thế giới nhận rõ nguy cơ sát sườn đối với độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của VN cũng như của một số quốc gia ven biển cũng như sự an toàn của tuyến hàng hải quốc tế xuyên qua Biển Đông. 


                                          TQ đang tôn tạo đảo tại Gạc Ma

Sự phản ứng của MỸ, Nhật và quốc tế lên mức cao chưa từng có. Washington bất chấp mọi cảnh báo của Bắc Kinh đã cử máy bay, tàu chiến giám sát trên vùng trời và phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo. Gần đây cả Nga được TQ hy vong tranh thủ lôi kéo làm đồng minh cũng đã chính thức nêu rõ "không đứng về bên nào" trong tranh chấp Biển Đông. Tại HN Ngoại Trưởng ASEAN- ARF mới đây, Bắc Kinh buộc phải "xuống thang" tuyên bố "ngừng tôn tạo đảo" và và "sẵn sàng thảo luận với ASEAN...", mặc dù ai cũng biết đây chỉ là thủ hoãn binh mà thôi.

Đó và việc  của TQ với thế giới. Nhưng với VN thì sao? Kể từ sau chuyến thăm được đánh giá "lịch sử " của Tổng BT Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ tháng 8 vừa qua , dư luận ở cả MỸ và VN cũng như thế giới đều có hy vọng VN đang rời bỏ lối mòn thân Tàu...Nhưng thực sự mà nói chưa có gì để đảm bảo cho hy vọng này thành hiện thực, nhất là khi đường lối cơ bản của Đảng vẫn còn đó. Và sẽ thật sự đáng tiếc nếu giới lãnh đạo VN lại để tuột mất cơ hội này./.

Trần Kinh Nghi

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 6 năm 2015

Dân trí có hạn hay quan trí có vấn đề?

Nguyễn Văn Tuấn / Basam 05-06-2015

Cứ mỗi lần Quốc hội nhóm họp là người dân có dịp nghe những lời hay ý đẹp của các đại biểu, và năm nay cũng không phải là ngoại lệ. Chẳng hạn như trong cuộc thảo luận về trưng cầu dân ý một ông dân biểu Hà Nội nói rằng cần phải xem “lòng đảng” ra sao. Tôi đọc đi đọc lại mà không hiểu cái “lòng đảng” là cái gì mà cần phải xem xét. Mượn ý cụ Nguyễn Du, có ai lấy thước mà đo … lòng đảng được? Một ông khác thì nói “dân trí thấp, không thể tuỳ tiện trưng cầu” (1). Hi vọng là báo chí tường thuật đúng những gì ông nói. Ông là một quan chức trong Hội nhà báo, tức là thuộc nhóm có học, mà nói như thế thì quả là đáng ngạc nhiên.
Vì ngạc nhiên, nên tôi tò mò kiểm tra xem tình hình dân trí của ta như thế nào, và kết quả có lẽ sẽ làm bạn ngạc nhiên. Sau đây là vài số liệu chính dựa vào điều tra dân số năm 2009 (tức là hiện nay đã khá hơn) (2):
  1. Gần 94% người dân biết đọc, biết viết;
  2. Khoảng 1/4 người Việt xong trung học hay cao hơn;
  3. Ở người trên 15 tuổi, 4.2% có bằng cử nhân và 0.2% có bằng sau đại học;
Việt Nam có hơn 100 ngàn thạc sĩ, 24 ngàn tiến sĩ, 10 ngàn giáo sư và phó giáo sư (3). Ngoài ra, chúng ta còn biết rằng Việt Nam có nhiều tướng lãnh có bằng tiến sĩ và học hàm giáo sư.
Niên học 2011-2012, Việt Nam có 215 trường cao đẳng, 204 trường đại học, với 756 ngàn học sinh cao đẳng và 1.4 triệu sinh viên đại học.
Nói chung, nhìn qua những con số trên, rất khó nói rằng dân trí Việt Nam còn thấp. Nếu nhìn vào con số giáo sư và tiến sĩ, Việt Nam còn cao hơn cả Thái Lan (vốn chỉ có 5414 phó giáo sư và 708 giáo sư).
Ở VN có một nghịch lí rất đáng chú ý. Khi nói về thành tựu giáo dục thì các quan chức thích nói rằng nền giáo dục ưu việt đã thành công xoá mù chữ, rằng dân ta thông minh và sáng tạo. Nhưng khi có ai đề nghị cải cách thể chế, phục hồi các quyền căn bản của công dân (như tự do báo chí, tự do ngôn luận, trưng cầu dân ý) thì chính những cán bộ này lại nói rằng trình độ dân trí còn thấp, chưa thể cải cách được. Hiếm thấy các quan chức Việt Nam khinh thường dân như thế. Ấy thế mà họ lúc nào cũng oang oang nói là đầy tớ của nhân dân!
Nhưng những dữ liệu tôi vừa trình bày trên đây cho thấy dân trí Việt Nam khá tốt. Tuy nhiên, hãy giả dụ rằng người dân thiếu thông tin, thì nhiệm vụ của Nhà nước là phải cung cấp cho họ thông tin đa chiều để nâng cao nhận thức và “dân trí”. Nhưng rất tiếc là các cán bộ trong chính quyền chưa làm (hay chưa dám làm) việc nâng cao dân trí bằng cách cung cấp thông tin cho người dân.
Thật ra, những người mở miệng nói dân trí thấp chính là “suy bụng ta ra bụng người” — chính cái quan trí của họ mới thật sự thấp.
___
Ghi thêm: Hôm nay, ông dân biểu này đính chính rằng ông ủng hộ trưng cầu dân ý, nhưng chỉ hạn chế trong một số vấn đề (4). Ông không nói những vấn đề nào không nên trưng cầu dân ý, có lẽ chính ông cũng không biết.
Ông “đá banh” sang một ông giáo sư luật tên là Nguyễn Đăng Dung, nói rằng ông Dung là người nói trình độ dân trí VN còn thấp và trưng cầu ý kiến chỉ gây hại. Chưa biết có thật sự Gs Dung nói câu đó. Thật ra, bất cứ ai, kể cả những người có chức danh giáo sư, mà nói thế thì tôi nghĩ cái trí của người đó cũng thấp thế thôi, đâu có đáng để tham khảo. Vấn đề là chứng cứ, chứ ý kiến cá nhân của ông ấy chẳng có giá trị gì.
====
(1) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/241118/trung-cau-y-dan-phai-xem-long-dang.html
(2) http://vietnam.unfpa.org/webdav/site/vietnam/shared/Factsheet/FINAL_Factsheet_Education_ENG.pdf
(3) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2014/09/ve-nhung-con-so-giao-su-pho-giao-su-vn.html
(4) http://vtc.vn/noi-trinh-do-dan-tri-thap-bi-phan-ung-dai-bieu-ha-minh-hue-len-tieng.2.556547.htm

Thứ Sáu, ngày 05 tháng 6 năm 2015

Bắc Kinh báo hiệu: Không còn hiền lãnh ở Biển Đông nữa

Tác giả: Andrew Browne- Wall Street Journal 2/6/2015/ Người dịch: Trần Văn Minh

Ở vào thế giành quyền kiểm soát hồ” của mình, Trung Quốc rút lại sự khoan dung lâu dài dành các nước láng giềng
Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào cuối tuần này. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã 'kiềm chế hết mức' ở Biển Đông. Ảnh: AFP / Getty Images
Đô đốc Trung Quốc, ông Tôn Kiến Quốc nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore vào cuối tuần này. Đô đốc Tôn cho biết, Trung Quốc đã ‘kiềm chế hết mức’ ở Biển Đông. Ảnh: AFP / Getty Images
SINGAPORE—Cách Trung Quốc xem các tranh chấp chủ quyền đang sôi động ở Biển Đông, rằng sự nhẫn nại của họ đã đi quá xa.
Các nước nhỏ hơn ở quanh vùng biển gồm Việt Nam, Philippines và Malaysia đã thách thức sự kiên nhẫn của Bắc Kinh bằng cách đưa ra các tuyên bố chủ quyền trên nhiều đảo nhỏ, công trình xây dựng trên các đảo này và thăm dò năng lượng ở vùng biển xung quanh. Thật vậy, những hành động này đi trước bất kỳ hành động nào của Trung Quốc. Nhưng sự khoan dung cũng có giới hạn.
Cảm nghĩ về tính chính đáng này đã dẫn Trung Quốc tới dự án xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa, mà hiện nay là tâm điểm của một cuộc khủng hoảng đang gia tăng trong khu vực kinh tế năng động nhất thế giới.
Và điều này đến từ một quan điểm lịch sử xa xưa. Trung Quốc chỉ đơn thuần trả lại những gì họ gọi là “vùng biển gần” của họ cho nhà nước mà họ tin rằng nhà nước này đã hiện hữu hàng ngàn năm – như là một cái “hồ” của Trung Quốc – trước kỷ nguyên chủ nghĩa thực dân xâm chiếm.
Ngày nay, sau khi Trung Quốc bỏ sau lưng cuộc nội chiến, sự xâm lược của Nhật Bản và các xáo trộn khác, và sau bốn thập niên tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, cuối cùng họ đã đủ mạnh để đứng thẳng lên dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình.
Còn xa với cách hành xử như một quyền lực xét lại với tham vọng quân sự để thống trị, trong cách tính toán của Trung Quốc để mở rộng các rạn san hô và đá thành các pháo đài tiềm năng là một hành động cứu chuộc với lịch sử.
Một cách ngắn gọn, các hoạt động nạo vét của Trung Quốc không phá vỡ sự cân bằng, Trung Quốc khôi phục lại nó.
Bên ngoài, quan điểm chung này giúp giải thích tuyên bố bất thường của Đô đốc Tôn Kiến Quốc tại hội nghị an ninh quan trọng ở Singapore vào cuối tuần trước.
Khi chính ông nói tới vấn đề nằm trong tâm trí của tất cả mọi người tại Đối thoại Shangri-La – việc Trung Quốc xây dựng 2.000 mẫu đất trên lãnh thổ giữa biển trong vòng 18 tháng qua (tương đương với 1.500 sân bóng bầu dục) – Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc tuyên bố rằng, nước ông đang thực sự kiềm chế.
Ông nói, “Trung Quốc đã kiềm chế hết sức”.
Không đếm xỉa tới lời kêu gọi của ông Ash Carter, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, nên ngừng công việc mở rộng, là đe dọa ưu thế quân sự của Mỹ và đẩy qua hết một bên quốc gia Á châu này đến quốc gia khác, đến nỗi các lãnh đạo quân đội và an ninh của họ than phiền rằng Trung Quốc đang đe dọa hòa bình, Đô đốc Tôn khẳng định rằng các hoạt động xây dựng là “hợp pháp, chính đáng và hợp lý”.
Đô đốc Tôn đã không tiếp tục giải thích những gì Trung Quốc có thể sẽ làm nếu họ không tự kềm chế.
Tuy nhiên, câu hỏi này là gốc rễ của sự lo lắng hiện nay đang chi phối châu Á. Nếu một công cuộc xây dựng thả cửa với mức độ chưa từng thấy mà gọi là kiềm chế, thì sự không kiềm chế sẽ như thế nào?
Bởi vì các tuyên bố chủ quyền biển của Trung Quốc quá rộng lớn – gần như toàn bộ Biển Đông và tất cả các thực thể biển – nỗi lo sợ trong vùng Đông Nam Á là Trung Quốc đang tạm thời đè nén sự thôi thúc cho việc kiểm soát toàn bộ cái “hồ” của họ và các tuyến đường biển trong đó.
Bằng cách thúc giục Việt Nam ngưng các công trình cải tạo đảo của mình trong khu vực, ông Carter cho thấy rằng ông hiểu rất rõ mối nguy hiểm khi mà sự kiên nhẫn của Trung Quốc có thể chấm dứt.
Nhiều nước trong khu vực tin rằng chỉ là vấn đề thời gian trước khi Trung Quốc tuyên bố kiểm soát bầu trời bằng cách thiết lập một khu vực phòng thủ không gian, giống như điều mà họ đã tuyên bố trên biển Hoa Đông – một hành động mà Đô đốc Tôn không loại trừ. Một hành động như vậy “sẽ phụ thuộc vào vấn đề nếu an ninh hàng hải của chúng tôi bị đe dọa”, ông nói.
Trung Quốc đã khẳng định quyền điều khiển tất cả các hoạt động đánh bắt cá trong khu vựcBiển Đông. Và họ xem toàn bộ khu vực này là một phân khu hành chánh của đảo Hải Nam, một lệnh điều hành của chính phủ [TQ] tiến xa về phía nam, tới tận Indonesia.
Thêm nữa, Trung Quốc lựa chọn những khía cạnh của luật pháp quốc tế hỗ trợ cho trường hợp của họ và phớt lờ những điều không hỗ trợ. Mặc dù họ ký Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, nhưng họ chưa bao giờ nêu ra yêu sách biển dựa theo luật đó.
Tháng trước, hải quân Trung Quốc đã cố gắng xua đuổi một máy bay do thám của Mỹ mang theo một đội thu hình của CNN tiếp cận đá Chữ Thập, một trong những công trình xây dựng lớn nhất. “Hãy đi khỏi!” một nhân viên phát thanh của hải quân Trung Quốc la lớn.
Máy bay P-8 Poseidon đã bị cảnh báo đang tiến tới một “khu vực báo động quân sự” – một dạng không phận không có cơ sở pháp lý. Lời cảnh báo này chỉ ra rằng Trung Quốc hẳn có ý định sử dụng công trình xây cất để tăng cường kiểm soát bầu trời trên Biển Đông và các tuyến đường biển, tuyến đường chứa hơn một nửa thương mại thế giới.
Thựa ra, sự nhập nhằng là một chiến thuật có chủ ý của Trung Quốc. Một đường chín đoạn xuất hiện trên bản đồ của Trung Quốc xung quanh Biển Đông, cho thấy quyền sở hữu của Trung Quốc không bao gồm bất kỳ tọa độ nào. Cũng như Trung Quốc chưa từng giải thích về cơ sở pháp lý của bản đồ.
Dù vậy, không phải ai cũng tin rằng Trung Quốc có ý định áp đặt các tuyên bố chủ quyền của họ tới cùng.
Viết trên báo Straits Times của Singapore tuần này, ông Vương Canh Vũ (Wang Gungwu), một giáo sư tại Đại học Quốc gia Singapore và là một học giả hàng đầu về triều đình Trung Quốc, biện giải rằng Trung Quốc chưa bao giờ mong muốn trở thành một đế chế hàng hải. Các chuyến hải hành 600 năm trước của thái giám Đô đốc Trịnh Hòa là một điều khác thường.
Không giống như Anh và Mỹ, là những nước xây dựng vị thế siêu cường thông qua sức mạnh hải quân, Trung Quốc có truyền thống tìm kiếm quyền lực thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ.
Ông Vương viết: “Vấn đề chính của Trung Quốc là làm thế nào để thuyết phục các nước láng giềng rằng họ không có ý định chuyển từ quả quyết tới áp chế”.
Trong lúc này, Mỹ và các đồng minh Á châu chỉ còn phỏng đoán sự tự kiềm chế của Trung Quốc sẽ kéo dài bao lâu. Các cuộc tranh luận tại Washington về việc liệu sự kiềm chế của Trung Quốc cần được khuyến khích thông qua ngoại giao và kêu gọi tuân thủ các nguyên tắc pháp lý và chuẩn mực quốc tế, hoặc áp đặt bằng vũ lực. Dù bằng cách nào đi nữa, sự kiềm chế không thể xem như mặc định.

Lại xuất hiện cơ hội lớn đối với VN (*)

(*) Tiêu đề nguyên bản là "Cơ hội lớn nhất cho tất cả tổ quốc và đảng Cộng sản  Việt Nam" của tác giả Trần Quí Cao đăng tại blog Basam ngày 5/6/2015

Thời cơ trước mắt cực kì thuận lợi cho nước Việt Nam thoát Chậm Tiến, thoát Độc Tài Toàn Trị, và song song với đó là thoát Trung.
Thời cơ trước mắt cũng cực kì thuận lợi cho đảng CSVN thoát ra khỏi chính mình, tự xác lập là một chính đảng luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ năm 1945 tới nay, và thức thời có công lớn trong việc đưa Việt Nam vào một giai đoạn mới: Dân Chủ, Phát Triển bền vững và Tự Chủ.

Tìm kiếm Blog này

Đang tải...